61 Ngày 1/2/2026 & 15/2/2026 thu hút sự quan tâm rộng rãi, như kênh YouTube Lý Thị Ca của anh Triệu Mạnh Dương (người Dao ở Tuyên Quang), Từ Hải Thổ vlog của anh Giáp Văn Hải (dân tộc Mông ở Hà Giang cũ), Hướng Giáy Sa Pa của chị Vũ Thị Ngọc Hướng (dân tộc Giáy ở Lào Cai cũ), Nông Thị Cẩm Quỳnh (dân tộc Nùng ở Tuyên Quang)... Không kịch bản, không lời dẫn cầu kỳ, các video chủ yếu ghi lại cảnh lao động và sinh hoạt thường ngày: vào rừng chặt tre, dựng nhà, trồng rau, nấu món truyền thống, thực hiện nghi lễ, giúp người xem cảm nhận rõ tinh thần lao động, tính cộng đồng và triết lý sống hài hòa với thiên nhiên của người vùng cao. Hiện hàng nghìn video với hàng triệu lượt xem đã đưa hình ảnh một bản làng từ góc núi xa xôi trở thành nội dung quen thuộc trên không gian mạng. Không chỉ riêng một kênh, phong trào làm YouTube, TikTok về đời sống và văn hóa vùng dân tộc thiểu số đang lan tỏa mạnh mẽ. Mỗi kênh là một lát cắt của bức tranh đa sắc, có kênh theo đuổi ẩm thực núi rừng, có kênh đi sâu vào nghề truyền thống, có kênh kể chuyện chợ phiên, lễ hội, mùa vụ, song điểm chung là sự chân thực, chất phác. Từ những video quay bằng điện thoại, họ dần trở thành những nhà sáng tạo nội dung, vừa lan tỏa văn hóa, vừa tạo sinh kế từ việc đưa nông sản, sản phẩm thủ công địa phương đến với thị trường rộng lớn hơn. Sức lan tỏa của các nền tảng số đã mở rộng không gian tồn tại của văn hóa bản địa. Một thước phim quay ở bản làng xa xôi có thể xuất hiện trên màn hình điện thoại của khán giả ở nhiều châu lục. Nhờ tính đa ngôn ngữ và thuật toán gợi ý, nhiều kênh chủ động đặt tiêu đề bằng tiếng Anh, để nếp sống, phong tục, ẩm thực và thiên nhiên vùng cao Việt Nam vượt ra khỏi phạm vi địa phương, trở thành “cửa sổ văn hóa” cho bạn bè quốc tế. Trong không gian ấy, tiếng chày giã gạo, bếp lửa nhà sàn, ruộng bậc thang, khung cửi dệt vải không chỉ là sinh hoạt thường ngày mà trở thành những biểu tượng sống động của bản sắc. Ở chiều ngược lại, chính cộng đồng cũng đang được tiếp thêm nguồn năng lượng mới. Khi những giá trị tưởng như bình dị của quê hương được yêu mến, chia sẻ và bình luận tích cực, niềm tự hào được khơi dậy, đặc biệt trong giới trẻ. Nhiều bạn trẻ bắt đầu chủ động học lại tiếng mẹ đẻ, tìm hiểu phong tục, lễ nghi, nghề truyền thống để đưa vào nội dung số. Lúc này, văn hóa không còn đứng yên trong ký ức hay trong những dịp lễ hiếm hoi, mà trở thành một phần của đời sống đương đại. Mỗi thước phim không chỉ là nội dung giải trí, còn là những “tư liệu sống” về phong tục, tri thức dân gian, lễ nghi, nghệ thuật ẩm thực và lao động sản xuất, được lưu giữ bằng hình ảnh và âm thanh của thời đại số. Nhận thấy tiềm năng ấy, nhiều địa phương đã chủ động gắn chuyển đổi số với bảo tồn văn hóa. Những lớp tập huấn quay, dựng video cho thanh niên, người trẻ dân tộc thiểu số được tổ chức, kết nối các kênh nội dung với hoạt động quảng bá di sản và du lịch cộng đồng. Từ đó, một lực lượng “công dân số” tại chỗ đang dần hình thành những người vừa am hiểu bản sắc địa phương, vừa có khả năng đưa bản sắc ấy lan tỏa trên không gian mạng bằng ngôn ngữ hiện đại. Ở tầm nhìn rộng hơn, chuyển đổi số đang trở thành chiếc đòn bẩy mềm để thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền. Khi văn hóa gắn với sinh kế, được tôn trọng và lan tỏa, văn hóa sẽ tự nuôi sống mình, tiếp tục vận động và thích ứng trong đời sống hiện đại. Từ một chiếc điện thoại, từ những thước phim mộc mạc không ánh đèn sân khấu, nhiều bản làng đang vẽ lại bản đồ văn hóa của mình trên không gian số. Những “sứ giả văn hoá số” – những chàng trai, cô gái dân tộc thiểu số với máy quay trong tay – đang lặng lẽ làm công việc vừa giản dị vừa lớn lao, mang nhịp sống, ký ức và bản sắc của cộng đồng bước vào dòng chảy toàn cầu. Mỗi thước phim được đăng tải không chỉ là một câu chuyện đời thường, mà là một hạt mầm văn hóa, góp phần làm phong phú không gian văn hóa số, để từ đó, bản làng không chỉ hiện diện trên bản đồ địa lý, mà còn có vị trí xứng đáng trên bản đồ văn hóa của thời đại số./.
RkJQdWJsaXNoZXIy MTc3MTYxMQ==